Những Tà Giáo Về Ba Ngôi – Phần 05

162
nhung ta giao ve Ba Ngoi

Những Tà Giáo Về Ba Ngôi – Phần 05

“Nhưng hãy lánh những điều cãi lẽ dại dột… Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo một hai lần rồi, thì hãy lánh họ,” Tít 3:9-10

Cuối cùng, tà thuyết thứ tư là tà thuyết Tritheism mà tiếng Hán Việt gọi là Tam thần thuyết. Một cách đại thể Tam thần thuyết tuyên bố Thượng Đế bao gồm ba hữu thể là ba vị thần riêng biệt. Ba vị thần quyền năng lớn nhất vũ trũ trụ nầy liên hiệp lại thành một bộ ba (triad).

Như thế, tam thần thuyết trực tiếp nghịch lại Giáo lý Ba Ngôi, là giáo lý dạy rằng Đức Chúa Trời là vị Chân Thần duy nhất, hiện hữu trong ba Ngôi Vị, là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Cả ba Ngôi Vị nầy đồng một thể yếu, đồng quyền năng và vinh hiển như nhau.

Không bàn đến Tam thần thuyết trong thế giới ngoại giáo, trong Cơ-đốc giáo hai mươi thế kỷ qua, Tam thần thuyết cũng đã nhiều lần xuất hiện dưới hình thức nầy hay hình thức khác. Trước hết, là trong những thế kỷ đầu, những nhóm tín đồ tin vào Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh vì ba Ngôi Vị nầy của Đức Chúa Trời được các sứ đồ và những giáo phụ kế tiếp sứ đồ dạy dỗ rất rõ và kỹ, mà vẫn bài xích Giáo Lý ba ngôi, thì đa số đều lập luận theo Tam thần thuyết.

Đến thế kỷ thứ sáu, một nhóm học giả dẫn đầu bởi John Philoponus (490–570AD), một học giả nổi tiếng về Triết học Hy lạp, người đã sốt sắng đem triết học của Aristote vào Cơ-đốc giáo, bị cáo là đã dạy Tam thần thuyết trong Hội Thánh vì cho rằng Ba Ngôi mang ba bản tánh, thể yếu, và thần tánh riêng biệt. Ông đã dựa vào cách phân loại của Aristote (Aristotelian categories of genus, species and individuum) để suy diễn và giải luận về Giáo lý Ba Ngôi.

Sang thế kỷ thứ mười một, một tu sĩ ần cư tên là Roscellin (1050-1120) ở Compiegne, nước Pháp, người đã lập ra phái Duy danh trong trong triết học Tây phương nói rằng Cha, Con, và Thánh Linh phải là ba vì Thần riêng biệt, vì nếu không, Cha và Thánh Linh cũng đã phải nhập thể làm người cùng lúc với Đức Chúa Jêsus, theo như nguyên tắc lý luận tổng quát của phái Duy danh. Tà thuyết nầy đã bị Anselm of Canterbury (1033 – 1109) bác bỏ.

Bước sang thời đại được mệnh danh là Thời đại Ánh sáng (Enlightment), điều có thể thấy khá rõ là một khi lý trí được đề cao đến mức tối đa, thì nhận thức về giáo lý Cơ-đốc lại trở nên tối tăm và trẻ nít một cách khó hiểu. Vào thời kỳ nầy một loạt các giáo sư và học giả của cả Công giáo lẫn Tin lành đã làm sống lại Tam Thần thuyết với những hình thức khác nhau. Trong số những người nầy có những người nổi tiếng như Heinrich Nicolai (1605-1650) giáo sư Đại học Dantzig, William Sherlock (1641-1707), Giám học Đại học Luân đôn, Joseph Bingham (1668-1723), học giả, Anton Günther (1783-1863), triết gia, Pierre Faydit (1640-1709), giáo sư Trường Hùng biện Ba lê. Riêng Pierre Faydit, trong tác phẩm “Eclaireissements sur la doctrine et Phistoire ecclésiastiqes des deux premiers siecles” xuất bản tại Paris năm 1696, ông đã tìm cách chứng minh rằng các giáo phụ kế tiếp sứ đồ là những người tin theo Tam thần thuyết.

Trong thời đại chúng ta, những tín đồ của đạo Mormon là những người tin theo Tam thần thuyết. Theo đạo Mormon thì Thượng Đế thực ra là một “hội đồng” của ba vị thần là Cha, Con và Thánh Linh, liên kết thống nhất nhau lại rất chặt chẽ vì một mục đích chung. Mormon dạy rằng chỉ có vật chất là đời đời, còn ngay cả Đức Chúa Cha đã từng có thời là người ta và đã từng được sinh ra trong một thời điểm nào đó rất xa xưa. Ngài là người, nghĩa là cũng có xương thịt y như chúng ta, và có thân thể thẳng đứng, chớ không đứng cù khom như các sanh vật khác, nhưng “đầu đội trời, chơn đạp đất”, theo như cách nói của người Việt mình. Đức Chúa Cha đã từng sống trong một thế giới khác, nhưng rồi cuối cùng đã quyết định mang một trong các cô vợ của Ngài vào thế giới chúng ta, và đã cùng “nữ thần vợ” nầy mà sanh hạ ra Đức Chúa Jêsus và em kế của Ngài là Lucifer cùng vô số người khác…!

Trước khi kết thúc loạt bài “Những Tà Giáo Về Lẽ Đạo Ba Ngôi”, chúng ta hãy trở lại những lời truyền vô cùng rõ ràng và thiết thực của Kinh Thánh. Kinh Thánh dạy: “…Nhưng hãy lánh những điều cãi lẽ dại dột, những gia phổ, những sự cạnh tranh nghị luận về luật pháp, vì mấy sự đó đều là vô ích và hư không. Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo một hai lần rồi, thì hãy lánh họ, vì biết rằng người như thế đã bội nghịch mà cứ phạm tội, thì tự đoán phạt lấy mình.” Thư tín Tít 3:9-11.

Cải nhau với tà giáo là việc tai hại. Tranh luận với tà giáo là việc rất khó khăn, vì “chúa đời nầy” đã làm mù và làm cứng lòng họ. Những ai từng đối diện với tà giáo chắc sẽ nhận rằng sự bội nghịch của những người theo tà giáo có tính mầu nhiệm, mầu nhiệm như sự bội nghịch của ma quỷ vậy.

Vì vậy, một người muốn cứu người theo tà giáo phải hoàn toàn nhờ cậy vào ơn và quyền của Thánh Linh. Lại “không nên ưa sự tranh cạnh; nhưng phải ở tử tế với mọi người, có tài dạy dỗ, nhịn nhục, dùng cách mềm mại mà sửa dạy những kẻ chống trả, mong rằng Ðức Chúa Trời ban cho họ sự ăn năn để nhìn biết lẽ thật, và họ tỉnh ngộ mà gỡ mình khỏi lưới ma quỉ, vì đã bị ma quỉ bắt lấy đặng làm theo ý nó.” (2Ti-mô-thê 2:24-26).
Và, “Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo một hai lần rồi, thì hãy lánh họ”.(Tít 3:10)

Mục Sư Dương Ðức Hiền